TIN TỨC

fanpage

Thống kê truy cập

  • Online: 50
  • Hôm nay: 515
  • Tháng: 2557
  • Tổng truy cập: 3375814
Hỏi đáp
Đặt câu hỏi

Các Câu hỏi thường gặp

  • Có thể chia tài sản khi hôn nhân vẫn tồn tại không?

    “Vì chồng tôi có con riêng nên hai chúng tôi muốn rạch ròi về tài sản, hạn chế những phức tạp khi chồng tôi - hiện đã nhiều tuổi - qua đời. Việc này tôi phải làm thế nào, có thể nhờ tòa can thiệp không?” (bạn đọc Hồng Hải).

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 29 và 30 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi hành luật này thì:

    - Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác, thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung. Việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu toà án giải quyết.
    Trường hợp đôi bên tự thỏa thuận thì văn bản được lập phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản, chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. 

    - Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người. Phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

    - Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận. 

    Theo Luật Hôn nhân gia đình, con cái chỉ có quyền và nghĩa vụ tài sản với cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi. Vì vậy, nếu bạn đã giải quyết ổn thỏa vấn đề tài sản chung - riêng thì con riêng của chồng không có căn cứ đòi hỏi tài sản của bạn nữa.

  • Tài sản vợ được tặng có bị kê biên thi hành án khi chồng phạm tội?

    “Mẹ tôi cho vợ tôi một căn nhà, đã lập thủ tục sang tên xong. Mới đây tôi bị tòa tuyên phạm tội chiếm đoạt tài sản, buộc phải bồi thường cho người bị hại một số tiền lớn. Tôi muốn hỏi ngôi nhà nói trên có bị kê biên để thi hành án không?” 

    Trả lời:

    Luật Hôn nhân và gia đình quy định vấn đề tài sản của vợ chồng theo nguyên tắc: Với tài sản chung, nghĩa vụ tài sản của mỗi bên được bảo đảm bằng phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung. Với tài sản riêng (có thể có trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân), mỗi bên có toàn quyền định đoạt. Trường hợp của bạn không nói rõ ngôi nhà đó là tài sản chung cả hai vợ chồng hay thuộc sở hữu riêng của người vợ, nên chúng tôi xin nêu các giả thiết sau:

    1. Vợ bạn được tặng cho riêng ngôi nhà đó, hợp đồng tặng cho và giấy chứng nhận quyền sở hữu ghi tên một mình người vợ, hai vợ chồng thỏa thuận là không nhập ngôi nhà này vào khối tài sản chung: Trường hợp này ngôi nhà không thuộc quyền sở hữu của bạn nên không được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ riêng của bạn. Như vậy, ngôi nhà không thể bị kê biên để thi hành bản án của bạn.

    2. Hợp đồng tặng cho ghi tên cả hai vợ chồng, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ghi tên cả hai vợ chồng: Ngôi nhà đó là tài sản chung. Vì vậy nó có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bạn trong bản án. Trường hợp bị kê biên thi hành án, phần tài sản của vợ bạn trong đó (1/2 giá trị ngôi nhà) được giữ nguyên. Phần còn lại của bạn được xử lý để thi hành nghĩ vụ bồi thường.

    3. Cơ quan pháp luật chứng minh được việc cho tặng nhà là để trốn tránh nghĩa vụ bồi thường của bạn thì dù giấy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà chỉ ghi tên một mình vợ bạn, đôi bên có thỏa thuận không nhập ngôi nhà này vào khối tài sản chung của vợ chồng..., ngôi nhà đó vẫn có thể bị kê biên bảo đảm thi hành nghĩa vụ bồi thường của bạn.

  • Làm thế nào chứng minh tài sản riêng khi ly hôn?

    “Sau khi kết hôn, tôi được chú ruột cho một căn nhà, và được đứng tên giấy chứng nhận sở hữu. Nay hai vợ chồng bất hòa, dẫn tới ly hôn. Tài sản chung đã thỏa thuận xong, còn căn nhà trên vợ tôi đòi chia với lý do được cho trong thời kỳ hôn nhân. Tôi làm thế nào để chứng minh đó là tài sản riêng”. 
    Trả lời:

    Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung... Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản có tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung.

    Điều 32 và 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau: Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình. 

    Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên thấy: Nếu bạn và vợ bạn không có thỏa thuận sẽ đưa ngôi nhà đó vào khối tài sản chung của vợ chồng thì bạn có đủ cơ sở để chứng minh đó là tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ là giấy tặng cho của người chú, xác nhận của nhân chứng... Như vậy vợ bạn không thể yêu cầu được hưởng một phần trị giá ngôi nhà đó khi hai người ly hôn.

  • Đã thỏa thuận tài sản ly hôn còn có thể tranh chấp không?

    “Chúng tôi ly hôn với thỏa thuận tôi giao cho anh ấy một số tiền để tự lo chỗ ở. Trong thời gian trước mắt anh ấy phải chuyển tư cách từ chủ hộ sang tạm trú tại nhà tôi. Tôi xin hỏi thỏa thuận có cần chữ ký các con không? Anh ấy có thể tranh chấp nhà với tôi không? Và tôi có quyền yêu cầu anh ấy ra khỏi nhà bất cứ lúc nào không?” 
    Trả lời:

    1. Trường hợp con chung của hai người đã thành niên, có công sức trong việc tạo dựng tài sản trong gia đình thì thỏa thuận tài sản giữa hai người cần phải có chữ ký của các con. Để giấy thỏa thuận phân chia tài sản có giá trị pháp lý, bạn cần lấy xác nhận của công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như tòa án).

    2. Với thỏa thuận trên, đôi bên không còn cơ sở để tranh chấp tài sản nữa. Việc chuyển tư cách từ chủ hộ sang tạm trú không liên quan đến vấn đề sở hữu. Giấy đăng ký tạm trú có thời hạn 12 tháng, khi hết hạn có thể gia hạn.

    3. Bạn có quyền yêu cầu anh ấy ra khỏi nhà nhưng không phải bất cứ khi nào, vì còn phụ thuộc vào thời hạn đăng ký tạm trú mà anh ấy đã đăng ký cũng như hoàn cảnh thực tế, khả năng thu xếp chỗ ở mới của anh ấy.

  • Tài sản chung của vợ chồng gồm những gì?

    “Chồng hoặc vợ có tài sản do cha mẹ để lại trước khi kết hôn thì tài sản đó có được coi là tài sản chung của vợ chồng không? Khi ly hôn, tài sản đó được giải quyết thế nào?”.
    Trả lời:

    Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Riêng quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, nếu có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế riêng thì chỉ là tài sản chung khi đôi bên có thỏa thuận. Những tài sản khác có tranh chấp mà các bên không chứng minh được là tài sản riêng thì đó là tài sản chung.

    Từ những quy định trên, có thể rút ra:

    - Pháp luật Việt Nam công nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Khi hôn nhân đang tồn tại, mỗi bên hoặc cả hai bên đều có quyền chia tài sản hoặc xác định quyền sở hữu riêng.

    - Tài sản mà mỗi bên có được trước hôn nhân thì được coi là tài sản riêng của mỗi bên, và khi ly hôn, tài sản riêng của ai thì người đó nhận, không phải chia cho bên kia.

  • Vợ chồng có được cùng thành lập công ty TNHH không?

    “Vợ chồng tôi có ý định mở công ty để kinh doanh, nhưng không rõ pháp luật có cấm vợ chồng cùng nhau lập công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên không. Nếu được thì thủ tục thế nào?” .

    Trả lời:

    Luật Doanh nghiệp cũng như các văn bản pháp luật khác không cấm hai vợ chồng cùng đứng ra thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Vì vậy, vợ chồng bạn hoàn toàn có thể thành lập công ty TNHH có 2 thành viên trở lên.

    Thủ tục thành lập doanh nghiệp giống như các trường hợp bình thường khác mà trong mục Tư vấn đã trả lời. Bạn phải nộp 1 bộ hồ sơ lên phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở chính để đề nghị được cấp đăng ký kinh doanh.

    Hồ sơ gồm: Đơn đăng ký thành lập công ty TNHH có 2 thành viên trở lên; điều lệ công ty; danh sách thành viên. Cả 3 loại giấy tờ này được lập theo mẫu thống nhất niêm yết tại phòng đăng ký kinh doanh và không cần xin xác nhận của bất kỳ cơ quan nào.

  • Công chức không được thành lập, quản lý doanh nghiệp tư

    “Chúng tôi có ý định thành lập một công ty cổ phần, và tôi sẽ giữ chức danh giám đốc công ty này. Nhưng tôi lại đang là nhân viên nghiệp vụ của một doanh nghiệp nhà nước. Điều này có ảnh hưởng gì không?” .

    Trả lời:

    Theo Điều 9 Luật Doanh nghiệp và Pháp lệnh Cán bộ công chức thì một số đối tượng, trong đó có những người đang là cán bộ, công chức, không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và các tổ chức nghiên cứu khoa học tư.

    Theo Pháp lệnh Cán bộ công chức, chỉ những người sau mới được xác định là cán bộ, công chức:

    - Người do bầu cử để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

    - Người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

    - Người được tuyển dụng bổ nhiệm hoặc giữ công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước, hay xếp vào ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn, nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

    - Thẩm phán TAND, kiểm sát viên VKSND;

    - Người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên làm việc tong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

    Theo những gì bạn nói, bạn không thuộc các đối tượng trên, nên không bị cấm tham gia thành lập hay giữ chức vụ quản lý ở công ty cổ phần đó.

  • Người nước ngoài được giữ bao nhiêu cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam?

    “Tôi là người Việt Nam, sinh sống ở Hà Nội, có ý định thành lập công ty cổ phần cùng một số người bạn nước ngoài. Pháp luật cho phép người nước ngoài được giữ bao nhiêu phần trăm cổ phần?” .

    Trả lời:

    Theo Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg ngày 11/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ) thì các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam dưới các hình thức sau đây:

    1. Hình thức mua cổ phần:

    - Mua cổ phần phát hành lần đầu (với các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa).

    - Mua cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần, mua lại cổ phần của các cổ đông trong công ty cổ phần.

    2. Hình thức góp vốn:

    - Mua lại phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn; góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên mới của công ty trách nhiệm hữu hạn.

    - Một số trường hợp góp vốn khác.

    Tuy nhiên, dù góp vốn hay mua cổ phần thì "mức góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài ở doanh nghiệp Việt Nam... tối đa bằng 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp Việt Nam".

  • Đổi tên doanh nghiệp có phải đăng ký lại tên chủ sở hữu tài sản

    “Tôi muốn thay đổi tên công ty TNHH của mình thì có bắt buộc phải đi đăng ký lại tên chủ sở hữu tài sản của công ty hay không?”.
    Trả lời:

    Quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một trong những quyền được pháp luật bảo hộ. Theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, “việc thay đổi tên của doanh nghiệp không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp”. Như vậy quyền sở hữu tài sản trong trường hợp của bạn không bị thay đổi. Việc đăng ký lại tên chủ sở hữu khi đổi sang tên mới không có văn bản nào quy định bắt buộc.

  • Có được phép kinh doanh súng săn, súng thể thao không?

    “Tôi tìm được nguồn cung cấp súng thể thao và súng săn giá rẻ, muốn về Việt Nam kinh doanh. Nhưng tôi không rõ loại hàng này có được phép kinh doanh không và thủ tục ra sao. Xin giúp đỡ”
    Trả lời:

    Theo quy định tại Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và cụng cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996) thì "vũ khí" bao gồm các loại: Vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn... Trong đó vũ khí thể thao là các loại súng trường, súng ngắn thể theo chuyên dùng các cỡ; các loại súng hơi, các loại vũ khí khác dùng trong luyện tập, thi đấu thể thao và các loại đạn dùng cho các loại súng thể thao nói trên. Súng săn gồm súng săn một nòng, nhiều nòng các cỡ, tự động hoặc không tự động, súng hơi các cỡ, súng kíp, sung hỏa mai, súng tự chế và các loại đạn, vỏ đạn, hạt nổ, thuốc đạn dùng cho các loại súng kể trên.

    Tất cả các loại vũ khí, vật liệu nổ và cụng cụ hỗ trợ nói trên, Nghị định quy định: “Nghiêm cấm tổ chức và cá nhân sản xuất, sửa chữa, mua, bán, mang ra nước ngoài, mang từ nước ngoài vào, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng, biếu tặng, trao đổi các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái phép.” 

    Việc xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí thể thao do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)

    Với những quy định chặt chẽ như trên, dự định kinh doanh mặt hàng súng thể thao, súng săn của bạn không thể thực hiện được.

  • Thủ tục tạm ngừng hoạt động doanh nghiệp

    “Tôi đang đứng tên một công ty TNHH có trụ sở tại quận Tân Bình TP HCM, nay muốn tạm ngưng hoạt động trong một thời gian thì phải làm những thủ tục gì? Khi muốn tiếp tục hoạt động trở lại thì phải làm thế nào?”. 

    Trả lời:

    Theo quy định tại Thông tư số 08/2001/TT-BKHĐT ngày 22/11/2001 hướng dẫn thi hành Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 về đăng ký kinh doanh thì ít nhất 15 ngày trước khi tạm ngừng hoạt động, doanh nghiệp phải gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.

    Đối với công ty TNHH, công ty hợp danh, công ty cổ phần, kèm theo thông báo trên, công ty phải xuất trình bản sao hợp lệ quyết định của đại hội cổ đông, hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị về việc tạm ngừng hoạt động.

    Khi tiếp nhận thông báo, phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh phải ghi giấy biên nhân và trao cho doanh nghiệp.

    Khi muốn hoạt động trở lại, doanh nghiệp cần phải gửi thông báo và quyết định của đại hội cổ đông, hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị về việc tổ chức cho doanh nghiệp hoạt động trở lại cho các phòng đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đã nói ở trên

  • Bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ có được đền bù?

    “Tôi làm việc cho một công ty liên doanh theo hợp đồng không thời hạn. Vì lý do tình cảm giữa tôi và chủ sử dụng lao động mà tôi bị đơn phương chấm dứt hợp đồng. Vậy tôi có được đền bù gì không, và có thể lấy toàn bộ số tiền bảo hiểm mà mình đã đóng không?” 

    Trả lời:

    Người sử dụng lao động không thể vì lý do cá nhân hay tình cảm mà đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động. 

    Theo quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản liên quan, nến bên sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật, thì bên bị vi phạm (người lao động) có quyền yêu cầu bên kia tiếp tục HĐLĐ và phải bồi thường tiền lương cho những ngày mình không được làm việc, tính theo mức tiền lương ký kết trong hợp đồng.

    Bạn không được đòi lại tiền bảo hiểm mà công ty đã trích nộp cho mình, nhưng được quyền yêu cầu công ty trả lại sổ lao động và sổ bảo hiểm xã hội.

  • Hợp đồng lao động trái luật

    “Khi xin việc, tôi cam kết: làm việc 5 năm, đặt cọc 10 triệu đồng phí đào tạo, nộp bằng ĐH gốc. Hết 4 tháng thử việc, tôi ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) thời hạn 2 năm. Được 2 tháng, tôi chuyển cơ quan khác, báo lãnh đạo nơi cũ trước 4 ngày. Giám đốc không chấp nhận, bắt tôi làm đủ 5 năm mới trả bằng. Vậy có đúng không?” 
    Trả lời:

    1. Theo chúng tôi, bạn và công ty cũ đã ký một hợp đồng với nhiều điểm vi phạm luật lao động. Cụ thể:

    - Bộ luật Lao động quy định thời gian thử việc không quá 60 ngày đối với lao động chuyên môn kỹ thuật cao, vậy mà thời gian thử việc của bạn kéo dài tới 4 tháng.

    - Luật này cũng quy định doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc cho mình thì không được thu học phí, nhưng giao kết ban đầu của bạn lại buộc người lao động nộp 10 triệu đồng phí đào tạo.

    - Bộ luật Dân sự quy định các giấy tờ nhân thân (như bằng đại học, chứng minh thư...) là tài sản thuộc sở hữu cá nhân, được pháp luật bảo vệ, nhưng công ty cũ lại giao kèo buộc bạn nộp bằng gốc.

    - HĐLĐ được thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện và thiện chí của 2 bên. Việc người sử dụng lao động ép buộc bạn phải làm việc 5 năm là hoàn toàn trái luật. Bởi Bộ luật Lao động (phần sửa đổi) quy định HĐLĐ có xác định thời hạn là hợp đồng có hiệu lực trong thời gian 12-36 tháng.

    2. Bạn xin thôi việc khi chưa hết hạn HĐLĐ chính thức tức là bạn đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Vấn đề này Bộ luật Lao động quy định: Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất là 3 ngày, khi:

    - Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm hoặc không được bảo đảm các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng;

    - Không được trả công đầy đủ hoặc đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng;

    - Bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động;

    - Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị từ 3 tháng trở lên với HĐLĐ có thời hạn 12-36 tháng.

    Bạn có thể căn cứ vào các quy định trên để xem mình đã chấm dứt hợp đồng đúng luật chưa. Bạn cũng có thể yêu cầu tòa án giải quyết về tính hợp pháp của HĐLĐ mình đã ký.

  • Người lao động được bồi thường thế nào khi chấm dứt hợp đồng?

    “Tôi đang làm việc tại một khách sạn liên doanh và chỉ còn 1 tháng nữa là hết hợp đồng lao động. Nếu giám đốc không cho tôi ký hợp đồng mới thì tôi có được bồi thường gì không?” 
    Trả lời:

    1. Khi hết thời hạn quy định trong hợp đồng lao động, người sử dụng lao động, người lao động có quyền ký hoặc không ký hợp đồng lao động mới. Trường hợp một bên không muốn gia hạn hợp đồng thì quan hệ lao động giữa hai bên sẽ chấm dứt khi hợp đồng hết hạn.

    2. Theo Điều 42 Bộ luật Lao động, khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ 1 năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc. Mức trợ cấp: mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có.

    Ngoài khoản tiền nói trên, việc người lao động có được hưởng thêm quyền lợi nào khác khi chấm dứt hợp đồng còn phụ thuộc vào nội dung hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể đã ký kết. Bạn cần xem lại các văn bản trên để yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo quyền lợi cho mình.

  • BHXH cho người đang hưởng lương hưu ở nơi khác

    “Tôi đang sử dụng một người đang hưởng chế độ hưu trí ở cơ quan khác. Vậy tôi có phải đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) cho họ nữa không, hay có thể chuyển tiền BHXH vào thẳng lương cho họ không?”.

    Trả lời:

    Bộ luật Lao động đã sửa đổi cùng Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 quy định bảo hiểm xã hội là một trong những điều khoản bắt buộc trong hợp đồng lao động. Vì vậy trong trường hợp của bạn, đôi bên người sử dụng lao động và người lao động phải thỏa thuận đầy đủ về vấn đề này.

    Quan hệ lao động mà bạn đang xác lập hoàn toàn độc lập với quan hệ lao động cũ của người mà bạn đề cập, nên bạn không thể lấy lý do người lao động đang được hưởng BHXH ở quan hệ lao động trước đây để loại trừ trách nhiệm trong quan hệ lao động mới của mình.

    Pháp luật không có quy định nào cho phép chuyển BHXH vào lương. Theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội (ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995), hàng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động. Tiền BHXH được hình thành từ 5% lương tháng của người lao động và phần đóng góp chiếm 15% quỹ tiền lương.

  • Người dưới 18 tuổi có quyền ký hợp đồng lao động không?

    “Xin cho hỏi pháp luật quy định thế nào về hợp đồng lao động? Người dưới 18 tuổi có quyền ký hợp đồng lao động không?”

    Trả lời:

    Bộ luật Lao động quy định hợp đồng lao động (HĐLĐ) phải được ký kết trong một 3 loại: HĐLĐ không xác định thời hạn, hợp đồng xác định thời hạn (từ đủ 12 tháng đến 36 tháng), và hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

    HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu sau: Công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội với người lao động.

    Pháp luật quy định người đủ 15 tuổi trở lên có thể ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động không được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động thương binh & xã hội quy định. Việc nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc phải được sự đồng ý và theo doi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu.

  • Tội lây truyền HIV cho người khác

    “Một người biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn cố tình không có biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục với người khác thì có phạm luật không? Xử phạt thế nào?”.

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999 thì một người "biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác" thì bị coi là phạm tội lây truyền HIV cho người khác. Hành vi phạm tội này được quy định cụ thể như sau:

    "1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

    a) Đối với nhiều người;

    b) Đối với người chưa thành niên;

    c) Đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình;

    d) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân".

  • Đưa hối lộ nhưng chủ động khai báo, được miễn trách nhiệm hình sự

    “Với người đưa hối lộ nhưng đã tố giác, giúp đỡ cơ quan công an điều tra kẻ nhận hối lộ, pháp luật một số nước quy định họ được miễn truy tố. Vậy ở Việt Nam có quy định này không?” 

    Trả lời:

    Pháp luật Việt Nam cũng có quy định này. Cụ thể tại khoản 6 Điều 289 Bộ luật Hình sự quy định: Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để hối lộ”.

  • Em trai tôi bị phạt 3 năm tù vào 1997, và đã chấp hành xong hình phạt, bồi thường đầy đủ theo phán quyết của tòa. Nay em tôi xin đi lao động ở nước ngoài, muốn làm xóa án tích. Xin cho biết thủ tục thế nào?". (Ngô Văn Lan, Nam Định)

    Theo quy định tại các Điều 64, 65, 66 Bộ luật Hình sự, người bị kết án được xóa án tích và được coi như chưa bị kết án trong 3 trường hợp: đương nhiên xóa án tích; xoá án tích theo quyết định của tòa án và xoá án tích trong trường hợp đặc biệt. 

    Người đương nhiên được xóa án tích bao gồm:

    - Người được miễn hình phạt. 

    - Người bị kết án không phải về các tội quy định tại ChươngXI (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và chương XXIV (các tội phá họai hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh), nếu từ khi chấp hành xong bản án (về hình phạt và các khoản dân sự bồi thường khác) hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:

    a) 1 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo; 

    b) 3 năm trong trường hợp phạt tù đến 3 năm; 

    c) 5 năm trong trường hợp phạt tù từ trên 3 năm đến 15 năm; 

    d) 7 năm trong trường hợp phạt tù trên 15 năm. 

    Theo quy định nói trên thì em trai bạn bị tòa án phạt 3 năm tù về tội cố ý gây thương tích; đã chấp hành xong hình phạt tù, bồi thường đầy đủ và không phạm tội mới từ khi chấp hành xong hình phạt tù nên thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích. 

    Trong trường hợp em bạn cần cấp giấy chứng nhận xóa án tích thì làm đơn, kèm các tài liệu như giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp, giấy xác nhận của thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khoản bồi thường, án phí, tiền phạt, giấy chứng nhận không phạm tội mới do công an quận, huyện nơi người bị kết án thường trú cấp, bản sao hộ khẩu, bản sao chứng minh nhân dân. 

    Hồ sơ gửi đến chánh án tòa án đã xử sơ thẩm vụ án để đề nghị cấp giấy chứng nhận được xóa án tích.

  • Làm thế nào để khởi tố người gây tai nạn?

    “Thủ tục đề nghị xử lý hình sự người có lỗi trong tai nạn xe máy thế nào? Bên có lỗi có phải bồi thường các chi phí y tế chữa chạy cho người bị hại không?” 

    Trả lời:

    Theo quy định của pháp luật, để xem xét trách nhiệm của người gây tai nạn, gia đình bị hại phải căn cứ vào kết luận giám định thương tật. Sau đó, người bị hại có thể làm đơn khiếu tố gửi cơ quan điều tra đề nghị khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu người gây tai nạn bồi thường thiệt hại theo thủ tục dân sự.

    Trong đơn nêu rõ các phí tổn hợp lý như: chi phí khám chữa bệnh, tiền thuốc men, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, tiền công lao động bị mất trong những ngày điều trị tại bệnh viện...

    Về thủ tục chung, nếu xét thấy hành vi của người gây tai nạn cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra sẽ chuyển hồ sơ sang VKS để truy tố. Tòa án sẽ buộc người gây tai nạn bồi thường dân sự cho người bị hại, và buộc người đó phải chịu trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào mức độ lỗi và thiệt hại mà người đó gây ra.

  • Giao cấu với người chưa đủ 16 tuổi có phạm tội không?

    “Con gái tôi 15 tuổi có quan hệ tình dục với bạn trai 24 tuổi. Nhưng gặp gia đình tôi, cậu ta cùng bố mẹ phủ nhận. Tôi có thể kiện cậu ta được không, pháp luật quy định vấn đề này thế nào?” 

    Trả lời:

    Bộ luật Hình sự 1999 quy định tội “hiếp dâm trẻ em” (Điều 112), tội “cưỡng dâm trẻ em” (Điều 114) và tội “giao cấu với trẻ em” (Điều 115), trong đó trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là nạn nhân. Hành vi trong 3 tội danh này khác nhau ở chỗ Điều 112 là dùng vũ lực để giao cấu, Điều 114 là dùng thủ đoạn để nạn nhân miễn cưỡng giao cấu, và Điều 114 là quan hệ tình dục tự nguyện. Cũng vì vậy, mức hình phạt cao nhất cho kẻ phạm tội tùy từng điều luật là tử hình, chung thân hoặc 15 năm tù. 

    Trường hợp con gái bạn cần phải làm rõ sự việc diễn ra thế nào. Để cơ quan pháp luật có cơ sở giải quyết, bạn làm đơn tố cáo gửi cơ quan công an. Công an sẽ tiến hành lấy lời khai các bên, đưa bị hại đi giám định pháp y... Thanh niên kia có thú nhận hay không việc quan hệ tình dục không phải là yếu tố quyết định. Bởi luật tố tụng quy định không được coi lời nhận tội của một người là chứng cứ duy nhất để buộc tội người đó.

  • Gây tai nạn giao thông thế nào thì bị xử lý hình sự?

    “Mẹ tôi đi đường bị người khác tông xe máy, gây chấn thương sọ não, thiệt hại sức khỏe 32%. Người gây hại không chịu bồi thường tiền thuốc men cho gia đình tôi. Vậy tôi có thể khởi kiện ra toà để xử lý hình sự không hay chờ công an tự giải quyết?” 

    Trả lời:

    Theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì: Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: Làm chết một người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên...

    Như vậy, trường hợp của bạn, hành vi của người gây tai nạn đã đủ cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. 

    Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, tội phạm này không thuộc nhóm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Vì vậy gia đình bạn (người bị hại) không cần phải làm đơn yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố người gây tai nạn. Trách nhiệm khởi tố vụ án thuộc về cơ quan điều tra.

    Tuy nhiên, nếu thấy việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can bị kéo dài, người bị hại có quyền làm đơn gửi cơ quan điều tra, viện kiểm sát yêu cầu sớm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

    Khi giải quyết vụ án, tòa án sẽ xác định trách nhiệm hình sự cũng như trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại) của người gây tai nạn.

  • Cơ quan nào có trách nhiệm quản lý người bị kết án?

    “Gần nơi tôi ở có một tên côn đồ vừa bị tòa xử phạt án treo. Tên này về khu phố vẫn tiếp tục phá phách mà không thấy cơ quan nào quản lý. Tôi muốn hỏi cơ quan nào có trách nhiệm quản lý việc thi hành các bản án hình sự của tòa?” 

    Trả lời:

    Theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của toà án được giao cho nhiều cơ quan, tổ chức:

    - Công an thi hành án trục xuất, phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia hội đồng thi hành án tử hình. 

    - Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc cải tạo của những người được hưởng án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ.

    - Việc thi hành án quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm một số chức vụ hoặc cấm làm một số nghề nhất định do chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi thi hành án đảm nhiệm.

    - Cơ sở chuyên khoa y tế thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh.

    - Việc thi hành bản án và quyết định của toà án quân sự do các tổ chức trong quân đội đảm nhiệm, trừ hình phạt trục xuất.

    Các cơ quan thi hành án phải báo cho chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án về việc bản án hoặc quyết định đã được thi hành. Nếu chưa thi hành được thì phải nói rõ lý do.

    Như trường hợp bạn nêu, trách nhiệm quản lý người bị án treo thuộc về cả công an và UBND xã, phường, thị trấn.

  • Chia thừa kế khi cha đã mất để lại vợ bé không hôn thú

    “Cha tôi có 2 vợ, một có hôn thú là mẹ tôi, có 5 người con; bà hai không hôn thú, sinh 6 người con, trong giấy khai sinh để trống phần cha. Cha tôi mất 14 năm trước không để lại di chúc. Sau đó 9 năm, 3 chị em tôi ra nước ngoài, mẹ tôi cũng đi nơi khác, để ngôi nhà mà cha mẹ tôi đứng tên cho mẹ con bà hai dùng. Căn nhà này được chia thừa kế thế nào? Tranh chấp giải quyết ra sao?” 
    Trả lời:

    1. Cha của chị mất cách đây 14 năm, tức năm 1998, và đã có nhiều con, có nghĩa là họ sống với nhau từ trước năm 1986 (thời điểm ban hành Luật Hôn nhân và gia đình). Do vậy dù không có hôn thú, hôn nhân của họ vẫn được thừa nhận là hôn nhân thực tế. Cha chị mất không có di chúc, nên cả hai bà vợ hai cùng 11 người con bình đẳng với nhau trong thừa kế phần di sản của ông để lại.

    Ngôi nhà hiện nay theo chị nói giấy tờ ghi đủ tên cha và mẹ chị, có nghĩa là tài sản chung của hai người. Do đó di sản của cha chị để lại là 1/2 ngôi nhà này (phần còn lại của mẹ chị). Phần di sản của cha chị tiếp tục được chia đều cho hai bà vợ và tất cả những người con của ông (tổng cộng 13 người).

    2. Thời hiệu khởi kiện thừa kế theo Bộ luật Dân sự là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm cha chị mất). Nhưng theo Nghị quyết 58 về giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 1/7/1991 thì trường hợp của chị nếu khởi kiện ngay thì vẫn còn thời hiệu. Tuy nhiên, theo Nghị quyết này và hướng dẫn của TAND Tối cao, vì vụ việc liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên tòa chỉ giải quyết khi người ở nước ngoài có giấy khước từ hoặc nhượng phần được hưởng thừa kế của mình cho người đang ở trong nước.

  • Chia thừa kế khi cha đã mất để lại vợ bé không hôn thú

    “Cha tôi có 2 vợ, một có hôn thú là mẹ tôi, có 5 người con; bà hai không hôn thú, sinh 6 người con, trong giấy khai sinh để trống phần cha. Cha tôi mất 14 năm trước không để lại di chúc. Sau đó 9 năm, 3 chị em tôi ra nước ngoài, mẹ tôi cũng đi nơi khác, để ngôi nhà mà cha mẹ tôi đứng tên cho mẹ con bà hai dùng. Căn nhà này được chia thừa kế thế nào? Tranh chấp giải quyết ra sao?” (bạn đọc Le Phuong Lan).

    Trả lời:

    1. Cha của chị mất cách đây 14 năm, tức năm 1998, và đã có nhiều con, có nghĩa là họ sống với nhau từ trước năm 1986 (thời điểm ban hành Luật Hôn nhân và gia đình). Do vậy dù không có hôn thú, hôn nhân của họ vẫn được thừa nhận là hôn nhân thực tế. Cha chị mất không có di chúc, nên cả hai bà vợ hai cùng 11 người con bình đẳng với nhau trong thừa kế phần di sản của ông để lại.

    Ngôi nhà hiện nay theo chị nói giấy tờ ghi đủ tên cha và mẹ chị, có nghĩa là tài sản chung của hai người. Do đó di sản của cha chị để lại là 1/2 ngôi nhà này (phần còn lại của mẹ chị). Phần di sản của cha chị tiếp tục được chia đều cho hai bà vợ và tất cả những người con của ông (tổng cộng 13 người).

    2. Thời hiệu khởi kiện thừa kế theo Bộ luật Dân sự là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm cha chị mất). Nhưng theo Nghị quyết 58 về giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 1/7/1991 thì trường hợp của chị nếu khởi kiện ngay thì vẫn còn thời hiệu. Tuy nhiên, theo Nghị quyết này và hướng dẫn của TAND Tối cao, vì vụ việc liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên tòa chỉ giải quyết khi người ở nước ngoài có giấy khước từ hoặc nhượng phần được hưởng thừa kế của mình cho người đang ở trong nước.

  • Chia thừa kế trường hợp người chết có nhiều vợ

    “Bố tôi có hai vợ, một là mẹ tôi (có chung 2 người con, sống với nhau từ năm 1975 đến 1985, không đăng ký), và một bà khác (từ 1990, có 1 con chung, trước đó không ly hôn với mẹ tôi). Năm 1997, cụ mất không để lại di chúc. Chúng tôi và người vợ hai có được hưởng thừa kế thế nào?” 

    Trả lời:

    1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bố và mẹ bạn (tạm gọi là bà A) không có đăng ký kết hôn nhưng được xác định là hôn nhân thực tế. Do đó việc hai người không ly hôn mà cụ ông lại về chung sống với người phụ nữ khác (bà B) là bất hợp pháp.

    2. Ông cụ chết không để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật. Bà B không được hưởng thừa kế nhưng được sở hữu phần đóng góp của mình trong khối tài sản chung với bố bạn.

    3. Phần di sản của ông cụ được chia thừa kế cho 4 người: bà A, 2 chị em bạn, và người con chung của ông với bà B.

  • Di chúc không buộc phải có chứng nhận của địa phương

    “Đề nghị giải đáp cho tôi hai câu hỏi: 1. Di chúc viết tay không có sự chứng kiến, chứng nhận của chính quyền địa phương, không qua công chứng có được xem là hợp pháp không? 2. Việt kiều có được hưởng thừa kế bất động sản trong nước không?” 

    Trả lời:

    1. Bộ luật Dân sự Việt Nam cho phép người để lại di sản lập di chúc bằng văn bản không cần người làm chứng hay xác nhận của chính quyền (Điều 658). Văn bản đó phải được lập theo đúng quy định tại Điều 656: Ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang, thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

    2. Việt kiều đang sống ở nước ngoài không được đứng tên sở hữu tài sản là bất động sản do được hưởng theo di chúc. Theo quy định tại điểm b, khoản 4 Điều 10 Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 5/11/2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam thì “đối với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được quy định tại Điều 5 Nghị định này, nếu nhận thừa kế thì chỉ được hưởng về giá trị của phần thừa kế đó”.

  • Việt kiều hưởng thừa kế tài sản của vợ ở Việt Nam thế nào?

    “Vợ tôi quốc tịch Việt Nam đứng tên mua nhà đất tại TP HCM và đã được cấp sổ đỏ. Nay vợ tôi chết, tôi là người thừa kế duy nhất nhưng lại đang định cư nước ngoài. Tôi muốn thừa kế di sản của cô ấy thì phải làm gì?”

    Trả lời:

    Nếu anh là người thừa kế duy nhất của vợ thì về nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, anh có quyền thừa kế toàn bộ di sản của vợ để lại. Anh cần xuất trình những giấy tờ chứng minh mình là chồng và là người thừa kế duy nhất của vợ với phòng công chứng của tỉnh, thành phố nơi có nhà, đất để xin chứng thực hưởng thừa kế.

    Tuy nhiên, anh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nên quyền thừa kế sẽ bị hạn chế bởi Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 5/11/2001 về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam. Theo Điều 5 văn bản này, Việt kiều về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, được cấp giấy phép đầu tư hoặc được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc là người xin về sinh sống ổn định tại Việt Nam và được cấp có thẩm quyền chấp thuận, thì được quyền đứng tên chủ quyền nhà, đất.

    Điểm b, khoản 4, Điều 10 văn bản này quy định: “Với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được quy định tại Điều 5, nếu nhận thừa kế thì chỉ được hưởng về giá trị của phần thừa kế đó”. Nghĩa là anh chỉ có thể được hưởng số tiền bán tài sản chứ không thể đứng tên chủ quyền nhà, đất với di sản đó

  • Tôi muốn từ chối nhận thừa kế

    “Ba má tôi qua đời để lại một căn nhà không lập di chúc là cho ai. Anh em tôi ở Australia đồng ý là sẽ từ chối nhận thừa kế, để lại toàn bộ cho em út trong nước với điều kiện cậu ấy không được sang nhượng. Chúng tôi sẽ làm thế nào”

    Trả lời:

    1. Theo Điều 645 Bộ luật Dân sự thì người được thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình với người khác. Thời hạn từ chối là 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế (ngày người để lại di sản thừa kế chết). Với quy định trên thì bạn hoàn toàn có thể làm giấy từ chối hưởng di sản thừa kế, được cơ quan đại diện ngoại giao tại Australia xác nhận.

    2. Tuy nhiên giấy từ chối nhận di sản thừa kế sẽ không hợp lệ nếu trong đó đặt điều kiện với người em út. Bởi bạn từ chối hưởng di sản có nghĩa là không có quyền sở hữu, trong đó có quyền định đoạt. 

    3. Người em có thể thỏa mãn các điều kiện của bạn, nếu trước khi các anh chị có giấy từ chối hưởng di sản, cậu ấy đã lập giấy cam kết không chuyển nhượng di sản nếu được hưởng toàn bộ.

  • Không có hộ khẩu ở Hà Nội có mua đất được không?

    “Tôi nghe nói những người không có hộ khẩu ở Hà Nội sẽ không được mua đất ở đây. Điều này có đúng không? Nếu họ vẫn muốn mua thì làm thế nào?” 

    Trả lời:

    Theo quy định của UBND thành phố Hà Nội, hiện nay thành phố chưa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho người không có hộ khẩu thường trú tại thành phố. Đây là thẩm quyền của chính quyền thủ đô, vì pháp luật đất đai quy định UBND cấp tỉnh có quyền cấp hay không cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất.

    Trong trường hợp bạn có nguyện vọng mua đất ở Hà Nội, bạn chỉ có thể lập hợp đồng ủy quyền cho người khác có hộ khẩu thành phố đứng tên hộ. Đến khi chính quyền Hà Nội rỡ bỏ hạn chế nói trên, bạn làm thủ tục sang tên.

  • Điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    “Điều kiện để được cấp sổ đỏ? Tôi có giấy phân nhà, đất từ 20 năm nay nhưng chưa có sổ đỏ. Nay khu nhà rơi vào quy hoạch, tôi sẽ được đền bù thế nào?” 

    Trả lời:

    I. Theo Điều 10 Nghị định số 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại nội thành, nội thị xã, thị trấn (thường được gọi là sổ đỏ) được xét cấp như sau:

    1. Trong trường hợp chủ nhà có các giấy tờ hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hoặc Nhà nước CHXHCN Việt Nam cấp, thì chủ nhà được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

    2. Trong trường hợp chủ nhà có các giấy tờ hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp, nếu nhà, đất này không có tranh chấp, không thuộc diện đã giao cho người khác sử dụng do thực hiện các chính sách của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, hoặc Nhà nước CHXHCN Việt Nam, thì chủ nhà được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

    3. Trong trường hợp chủ nhà không có hoặc có đủ giấy tờ hợp lệ trước ngày ban hành Nghị định này:
    a) Chủ nhà hoàn toàn không có giấy tờ hợp lệ:
    a1. Nếu nhà ở và đất ở phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp, thì chủ nhà được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Chủ nhà được cấp giấy chứng nhận phải nộp tiền sử dụng đất ở.
    a2. Nếu nhà ở xây dựng trên đất không được quy hoạch là đất ở thì chủ nhà không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Chủ nhà phải thực hiện lệnh giải toả nhà và lệnh thu hồi đất của nhà nước.
    b) Nếu chủ nhà có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, xây nhà không có giấy tờ hợp lệ nhưng nhà ở, đất ở hiện phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp, thì được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
    c) Nếu chủ nhà xây dựng nhà có giấy phép trên đất phù hợp với quy hoạch đất ở nhưng chưa có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp, thì được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của phần nhà đó. Chủ nhà phải nộp tiền sử dụng đất ở.
    d) Mọi trường hợp có tranh chấp thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở chỉ được xem xét khi đã giải quyết xong tranh chấp theo luật pháp. 

    II. Nếu nhà của bạn ở vào khu quy hoạch thì giá đền bù sẽ căn cứ vào vị trí cụ thể của lô đất, vào tính chất, quy mô của dự án... nên chúng tôi không thể trả lời chi tiết cho bạn được.

  • Có thể chuyển quyền sử dụng đất cho Việt kiều không?

    “Tôi là Việt kiều đang sống ở nước ngoài. Em tôi ở Việt Nam có một mảnh đất, chuyển quyền sử dụng cho tôi để tôi xây nhà có được không? Điều kiện thế nào?” 

    Trả lời:

    Pháp luật đất đai hiện hành chưa cho phép chuyển quyền sử dụng đất tại Việt Nam cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Do vậy, em bạn đang sống ở Việt Nam không thể chuyển quyền sử dụng đất cho bạn được.

    Tuy nhiên theo Luật Đất đai năm 1993 đã sửa đổi bổ sung năm 2001 và Nghị định số 81/2001/NĐ-CP của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam, thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nhu cầu về sống ổn định trong nước được mua nhà gắn liền với quyền sử dụng đất. Với quy định này, em bạn có thể xây nhà và bán lại cho bạn, khi bạn có đủ điều kiện trong Nghị định 81.

  • Thủ tục sang tên nhà đất ở Hà Nội

    “Trước đây chưa có hộ khẩu Hà Nội nên khi mua đất, tôi phải nhờ người quen đứng tên. Nay tôi đã có hộ khẩu, muốn đứng tên quyền sử dụng đất phải làm thế nào?” 

    Trả lời:

    Theo bản quy định ban hành kèm theo Quyết định số 158/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của UBND thành phố Hà Nội thì một trong các điều kiện để chuyển quyền sử dụng đất là bên được chuyển nhượng phải có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội. Thủ tục được tiến hành như sau:

    1. Hồ sơ được lập gồm: Đơn đề nghị chuyển quyền sử dụng đất (theo mẫu), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ khẩu thường trú tại Hà Nội, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất (theo mẫu).

    2. Hồ sơ ban đầu nộp tại phòng công chứng thành phố hoặc UBND quận, huyện nơi có đất chuyển nhượng. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nêu trên phải hoàn tất thủ tục công chứng, chứng thực.

    3. Bên chuyển quyền và bên nhận quyền đến cơ quan thuế nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất theo quy định. Cơ quan thuế căn cứ vào hồ sơ đã được công chứng, xác định các khoản thuế, lệ phí trong thời hạn 3 ngày và tổ chức thu theo quy định.

    4. Bên nhận quyền sở hữu đất nộp toàn bộ hồ sơ, chứng từ đã được thực hiện theo các bước nói trên tại sở địa chính nhà đất (nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu do UBND thành phố cấp), hoặc tại UBND quận, huyện (nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND quận, huyện cấp) để làm thủ tục đăng ký trước bạ, sang tên vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Sống ở nước ngoài và có hộ chiếu VN thì mua nhà được không?

    “Tôi đang sống ở nước ngoài từ năm 1998 với người vợ Đan Mạch và vẫn dùng hộ chiếu Việt Nam. Nếu tôi mua nhà ở Việt Nam thì tôi có thể đứng tên sở hữu không? Nếu 10 năm nữa tôi về nước sinh sống thì có cần làm thủ tục hồi hương không?” 
    Trả lời:

    1. Theo Nghị định số 81/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/11/2001 về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam, nếu bạn thuộc một trong các đối tượng sau đây thì được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất:

    - Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam;

    - Người có công với đất nước;

    - Nhà văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam;

    - Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam.

    2. Trường hợp bạn đã định cư ở nước ngoài nhiều năm, nay muốn về Việt Nam sinh sống thì bạn phải làm thủ tục hồi hương về Việt Nam. Thủ tục người Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương về Việt Nam được quy định tại Quyết định số 875/TTg của Thủ tướng ngày 21/11/1996. Theo đó để hồi hương bạn phải làm hồ sơ gửi cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại quốc gia bạn đang định cư, Cục Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an, hay sở công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hồ sơ gồm: Đơn xin hồi hương, các giấy tờ chứng minh rõ lý do, mục đích và đảm bảo đủ điều kiện hồi hương.

    Pháp luật Việt Nam không phân biệt thời gian định cư nhiều hay ít, nên tất cả các trường hợp hồi hương đều phải tuân thủ các quy định nói trên.

  • Pháp luật bảo vệ quyền của người sử dụng đất ổn định lâu dài

    “50 năm trước, bác cho bố mẹ tôi một thửa đất nhỏ, đôi bên không có giấy tờ, bút tích nào. Bố mẹ tôi đã xây nhà sống ổn định từ đó đến nay. Mới đây con bác tôi kiện đòi lại. Vậy có đúng không?"

    Trả lời:

    Một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng dân sự là người khởi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình trước tòa án. Do vậy nếu anh họ của bạn không có bất kỳ giấy tờ, tài liệu nào chứng minh mảnh đất đó là của họ thì về nguyên tắc, tòa án sẽ bác yêu cầu của bên khởi kiện.

    Tuy nhiên, bạn là người bị kiện cũng cần có giấy tờ chứng minh việc mình đã sống ổn định, liên tục ở đó mấy chục năm qua, không có tranh chấp gì với gia đình bên bác.

    Cũng cần lưu ý, Luật Đất đai cũng như Bộ luật Dân sự quy định rõ nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở là phải bảo vệ lợi ích chính đáng của người đã sử dụng đất ổn định, liên tục, lâu dài. Vì vậy nếu bạn chứng minh được các điều trên, quyền lợi hợp pháp của gia đình sẽ được bảo vệ.

  • Mang hộ chiếu VN còn hiệu lực thì không cần thị thực khi về nước

    “Tôi sinh sống ở nước ngoài đã lâu nhưng vẫn có quốc tịch Việt Nam, còn hộ chiếu. Nay về Việt Nam thăm người thân có cần thị thực không?”

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 3/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam thì công dân Việt Nam mang hộ chiếu hợp lệ được xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam qua các cửa khẩu. Công dân Việt Nam nhập cảnh Việt Nam không cần thị thực.

    Như vậy, nếu bạn có quốc tịch Việt Nam, mang hộ chiếu còn giá trị sử dụng thì khi về nước không cần thị thực.

  • Thủ tục gia hạn hộ chiếu

    “Tôi đang định cư ở nước ngoài và đang sử dụng hộ chiếu Việt Nam. Nay hộ chiếu sắp hết hạn, tôi làm thế nào để gia hạn?” 

    Trả lời:

    Theo quy định Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 3/3/2000 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2002/TTLT-BCA-BGN ngày 29/1/2002 của Bộ Công an và Bộ Ngoại giao về việc hướng dẫn cấp hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài, trong vòng 12 tháng trước khi hộ chiếu hết hạn, người có nhu cầu gia hạn hộ chiếu phải đến cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước sở tại làm tờ khai đề nghị gia hạn hộ chiếu. Nếu hộ chiếu còn nguyên vẹn, không có dấu hiệu bị tẩy xóa, sửa chữa ở trang nhân thân, không bị thay ảnh, thay trang hoặc khâu lại... thì trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện ngoại giao sẽ gia hạn hộ chiếu.

    Như vậy, nếu hộ chiếu của bạn hết hạn trước khi về Việt Nam thì bạn cần đến cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước sở tại làm tờ khai đề nghị gia hạn. Nếu bạn vẫn kịp về Việt Nam thì tới Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an), số 40 Hàng Bài, Hà Nội hoặc phòng quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố nơi bạn cư trú làm thủ tục gia hạn hộ chiếu.

  • Hộ chiếu cũ chưa hết hạn, có thể xin hộ chiếu mới không?

    Hộ chiếu phổ thông của tôi còn giá trị, nhưng tôi không muốn sử dụng nữa mà đổi hộ chiếu mới có được không? Có thể vừa gia hạn hộ chiếu cũ vừa đăng ký hộ chiếu mới không? 
    Trả lời:

    Theo Thông tư số 09/2000/TT-BCA ngày 7/6/2000 của Bộ Công an hướng dẫn việc cấp hộ chiếu phổ thông trong nước thì chỉ trường hợp bị mất hộ chiếu hoặc hộ chiếu cũ đã hết hạn 1 năm trở lên mới được xem xét cấp hộ chiếu mới.

    Như vậy việc đổi hộ chiếu cũ lấy hộ chiếu mới không được đặt ra, và bạn không thể vừa gia hạn hộ chiếu cũ vừa xin cấp hộ chiếu mới được.

  • Thời hạn cấp hộ chiếu phổ thông

    “Bố mẹ cháu đang công tác ở Singapore, muốn mời bà cháu sang chơi. Bà cháu làm hộ chiếu đã một năm nay mà vẫn chưa xong, hỏi thì ở tỉnh nói phải chờ. Việc này pháp luật quy định thế nào, trong thời gian bao lâu thì cơ quan nhà nước phải cấp hộ chiếu cho công dân?” 

    Trả lời:

    Theo Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 3/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam thì trong thời hạn 15 ngày làm việc (không kể thứ bảy và chủ nhật) kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền (công an tỉnh nơi công dân cư trú xin hộ chiếu) “phải cấp hộ chiếu” cho đương sự.

    Về thủ tục xem xét cấp hộ chiếu, trong thời hạn 10 ngày, công an tỉnh có trách nhiệm chuyển hồ sơ về Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an), trừ trường hợp thuộc diện chưa được xuất cảnh. Cục có trách nhiệm xem xét cấp hộ chiếu trong thời gian 5 ngày sau đó.

    Thời hạn 30 ngày chỉ áp dụng với trường hợp xin cấp hộ chiếu để ra nước ngoài định cư.

  • Xin cấp lại hộ chiếu bị mất ở nước ngoài mất bao lâu?

    “Tôi đang du học ở Pháp, và trong một lần đi lại bị kẻ gian lấy mất hộ chiếu. Tôi đã đến ĐSQ Việt Nam tại Paris để xin cấp lại hộ chiếu, nhưng nhân viên ở đây không nói cụ thể bao giờ có kết quả. Việc này pháp luật quy định thế nào?” 

    Trả lời:

    Theo Thông tư liên tịch số 03/2002/TTLT-BCA-BNG ngày 29/1/2002 hướng dẫn Nghị định số 05/2000/NĐ-CP của Chính phủ về cấp hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài thì:

    - Nếu hộ chiếu bị mất do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài cấp thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, chính cơ quan đó có trách nhiệm cấp lại hộ chiếu đó cho người bị mất;

    - Trường hợp cơ quan đại diện ngoại giao phải gửi tài liệu về Việt Nam để xác minh, từ trong thời hạn 5 ngày kể từ khi nhận được kết quả xác nhận có cấp hộ chiếu bị mất đó, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam có trách nhiệm cấp lại hộ chiếu cho người bị mất;

    - Nếu cơ quan này đã gửi yêu cầu về nước mà sau 45 ngày không nhận được trả lời của cơ quan đã cấp hộ chiếu cũ thì người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao xem xét, quyết định việc giải quyết yêu cầu cấp hộ chiếu mới.

    Như vậy tối đa 45 ngày, bạn sẽ nhận được kết quả yêu cầu cấp lại hộ chiếu của mình.

  • Trẻ em bao nhiêu tuổi thì phải làm hộ chiếu

    Trẻ em bao nhiêu tuổi thì khi ra nước ngoài phải làm hộ chiếu?”.

    Trả lời:

    Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 3/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam không quy định cụ thể trẻ em bao nhiêu tuổi thì được cấp hộ chiếu, mà chỉ quy định chung là:

    - Hộ chiếu cấp cho trẻ em dưới 16 tuổi không được gia hạn;

    - Đối với trẻ em dưới 16 tuổi đi ra nước ngoài cùng cha, mẹ hoặc người đỡ đầu, nếu cha, mẹ hoặc người đỡ đầu đó có yêu cầu được cấp chung hộ chiếu thì khai chung vào tờ khai xin cấp hộ chiếu của mình.

    Như vậy có thể thấy rằng trẻ em dưới 16 tuổi vẫn được cấp hộ chiếu, có thể là hộ chiếu độc lập hoặc hộ chiếu chung với cha, mẹ hoặc người đỡ đầu.

  • Xin phiếu lý lịch tư pháp ở đâu?

    “Tôi sinh ra ở Lào Cai và có hộ khẩu ở đây, nhưng 16 năm qua sinh sống, học tập ở TP HCM, với hộ khẩu dài hạn KT3. Nay tôi muốn lập lý lịch tư pháp, song cả công an địa phương lẫn Sở Tư pháp TP HCM đều từ chối. Tôi phải làm thế nào?” 

    Trả lời:

    Theo Thông tư số 07/1999/TTLT-BTP-BCA ngày 8/2/1999, thẩm quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp với công dân Việt Nam là sở tư pháp nơi thường trú. Trong mẫu đơn yêu cầu cấp phiếu ban hành kèm theo thông tư nói trên mục “Nơi thường trú/tạm trú”, và hướng dẫn là “ghi đúng theo nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Trong trường hợp không có nơi thường trú thì ghi theo nơi tạm trú...”.

    Đối chiếu những quy định trên với trường hợp cụ thể của bạn, chúng tôi thấy rằng, dù bạn chưa có hộ khẩu thường trú tại TP HCM, nhưng bạn đã cư trú ở đây 16 năm, có đăng ký hộ khẩu tạm trú. Do đó Sở Tư pháp TP HCM là nơi có thẩm quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp cho bạn. Nếu nhân viên ở đây không giải quyết cho bạn, bạn có thể khiếu nại lên ông giám đốc Sở Tư pháp đề nghị xem xét

  • Giấy khai sinh của con tôi để trống phần tên cha

    “Do bất hòa, vợ tôi bỏ ra sống ly thân khi đang mang bầu và sinh con một mình. Cháu giờ đã 20 tuổi, giống tôi như tạc, nhưng giấy khai sinh ckhông ghi tên cha. Tôi muốn làm lại khai sinh cho cháu theo họ tôi thì làm thế nào? Tôi đang ở nước ngoài, không về Việt Nam được” 

    Trả lời:

    Trường hợp của bạn, theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, bạn có thể tiến hành một trong 2 cách: làm thủ tục cha nhận con hoặc con nhận cha.

    Do bạn đang sống ở nước ngoài nên việc làm thủ tục con nhận cha sẽ thuận lợi hơn. Con bạn đã đủ 18 tuổi nên có thể tự đứng ra giải quyết mà không cần có sự đồng ý của người mẹ. Sau khi xác nhận cha cho mình, con bạn có quyền yêu cầu ghi họ cha vào giấy khai sinh.

  • Nhập hộ khẩu theo chồng hoặc vợ

    "Chồng tôi là công an ở cơ quan trung ương 20 năm nay nên có hộ khẩu Hà Nội. Riêng tôi đến giờ về hưu, hộ khẩu vẫn ở Lào Cai. Vậy tôi có thể xin nhập vào hộ khẩu chồng không" 

    Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định 51/CP ngày 10/5/1997 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ khẩu thì vợ về ở với chồng hoặc chồng xin về ở với vợ mà một trong hai người đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố khác là một trong 8 trường hợp được chuyển hộ khẩu.

    Ngoài ra, việc chuyển hộ khẩu còn áp dụng với các trường hợp sau:

    - Công chức, viên chức đang làm việc ở các tỉnh, thành phố giáp ranh hàng ngày về ăn ở với bố, mẹ, vợ, chồng, con...đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố;

    - Những người đã hết tuổi lao động, về hưu, nghỉ mất sức xin chuyển đến ở với con hoặc anh, chị, em ruột (nếu không có vợ, chồng, con) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố;

    - Người dưới 18 tuổi đến ở với ông, bà, anh, chị, em ruột, chú, bác, cô, dì ruột hoặc người đỡ đầu, người giám hộ (nếu không còn bố, mẹ) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố...

    Như vậy, trường hợp của bạn, dù đã hết tuổi lao động vẫn có thể được nhập hộ khẩu về thành phố với chồng.

  • Thủ tục cải chính họ tên

    “Hộ khẩu, tên trong chứng minh thư, hộ khẩu của tôi không trùng với giấy khai sinh. Nay tôi kết hôn mới phát hiện ra và không đăng ký được. Vậy làm thế nào để cải chính sai sót đó?”.

    Trả lời:

    1. Căn cứ Điều 29 Bộ luật Dân sự, bạn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ tên nếu việc sử dụng họ tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự hay quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. Việc thay đổi đó không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ tên cũ.

    2. Thủ tục cải chính tên trong chứng minh thư, hộ khẩu theo giấy khai sinh được thực hiện tại công an quận, huyện nơi bạn cư trú. Bạn chỉ cần mang giấy khai sinh bản chính tới đề nghị cơ quan này cấp mới chứng minh tư và cải chính hộ khẩu.

    Trường hợp cải chính giấy khai sinh (gồm cả họ tên, ngày tháng năm sinh) theo chứng minh thư và hộ khẩu được thực hiện theo Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch. Cơ quan có thẩm quyền cải chính là UBND cấp tỉnh nơi bạn cư trú hoặc nơi đã đăng ký khai sinh cho bạn. Hồ sơ nộp gồm bản chính giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình, chứng minh nhân dân và các giấy tờ khai chứng minh đủ điều kiện theo Điều 29 Bộ luật Dân sự nói trên.

  • Đăng ký khai sinh cho trẻ ở đâu?

    “Do điều kiện công tác, vợ chồng tôi hộ khẩu mỗi người mỗi nơi. Mới đây vợ tôi sinh bé, và tôi đưa cháu về nơi cư trú của mình làm khai sinh. Cán bộ phường từ chối và nói phải cho cháu khai sinh nơi mẹ đăng ký hộ khẩu. Vậy có đúng không” 

    Trả lời:

    Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân quan trọng của mỗi người, được quy định và bảo vệ tại Điều 55 Bộ luật Dân sự, Điều 7 Công ước của LHQ về quyền trẻ em.

    Để đảm bảo quyền này được thực thi, Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 và Thông tư 12/1999/TT-BTP ngày 25/6/1999 quy định: 

    - Thẩm quyền đăng ký khai sinh trước hết thuộc UBND cấp xã nơi người mẹ có hộ khẩu thường trú. 

    - Trường hợp người mẹ không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn, thì UBND phường nơi người mẹ đăng ký tạm trú thực hiện việc đăng ký khai sinh cho cháu bé. 

    - UBND phường, xã nơi bé sinh ra cũng có thẩm quyền thực hiện đăng ký khai sinh. Đây là trường hợp người mẹ không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, hoặc có những mắc lý do chính đang không thể về nơi đã đăng ký hộ khẩu. Khi khai sinh, người mẹ phải làm đơn trình bày rõ lý do.

  • Vắng nhà lâu có bị cắt hộ khẩu không?

    “Tôi và một số bạn du học ở Đài Loan có người bị cắt hộ khẩu trong nước, có người không. Trường hợp mất hộ khẩu, chúng tôi không thể chứng thực, xác nhận lý lịch được, nên rất khó khăn. Vậy quy định về cắt hộ khẩu thế nào?”
    Trả lời:

    Theo Thông tư số 06 ngày 20/6/1997 của Bộ Nội vụ (hướng dẫn thực hiện Nghị định 51 của Chính phủ về đăng ký, quản lý hộ khẩu) thì người nào vắng khỏi nơi thường trú quá 6 tháng mà không làm tạm vắng, và không có lý do chính đáng thì cơ quan công an nơi đăng ký hộ khẩu xem xét từng trường hợp cụ thể xử lý. Nếu xóa tên thì phải lập biên bản và báo cho chủ hộ gia đình hoặc người phụ trách nhà ở tập thể biết. Khi người đó trở về phải làm đơn trình bày nói rõ lý do đi vắng và xin đăng ký hộ khẩu trở lại. Căn cứ trình bày của đương sự và các giấy tờ liên quan, cơ quan đăng ký hộ khẩu xem xét giải quyết. Quy định này áp dụng trên phạm vi toàn quốc.

    Trường hợp của bạn muốn chứng nhận vấn đề nào đó diễn ra trong thời gian đang ở nước ngoài thì bạn có thể lấy chứng nhận của cơ quan ngoại giao Việt Nam tại nước đó.

  • Tranh chấp nhà ở trước 1/7/1991 có yếu tố nước ngoài

    "Năm 1954, ông nội tôi di chúc giao quyền sử dụng 1 căn nhà tại TP HCM cho vợ sau của ông, với điều kiện bà này không được bán căn nhà đó mà khi qua đời phải giao lại cho cha và cô tôi (con của ông nội với vợ trước). Cha và cô tôi giờ định cư ở nước ngoài, muốn xác lập sở hữu có được không?" 
    Trả lời:

    Theo Nghị quyết số 58 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 20/8/1998 và Thông tư liên tịch số 01 của TAND Tối cao và VKSND Tối cao ngày 25/11/1999 hướng dẫn Nghị quyết, các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, thì trong khi chưa có chính sách của Nhà nước với loại giao dịch dân sự này, tùy từng trường hợp mà tòa án xử lý như sau:

    - Nếu chưa thụ lý thì không thụ lý;

    - Nếu đã thụ lý và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết;

    - Nếu đã có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết thì tiếp tục tạm đình chỉ việc giải quyết.

    Với quy định trên thì hiện tại, cha và cô bạn chưa thể xác nhận quyền thừa kế căn nhà đó.

  • Muốn khởi kiện dân sự làm thế nào?

    “Tôi và một người khác đang tranh chấp đất đai và công nợ. Nay muốn đề nghị tòa xét xử thì thủ tục thế nào” 

    Trả lời:

    Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, muốn khởi kiện một người ra tòa, người khởi kiện (nguyên đơn) phải làm đơn kiện gửi tới tòa, kèm theo các tài liệu chứng minh cho nội dung khởi kiện. Ví dụ, kiện đòi nợ thì kèm theo đơn phải là giấy biên nhận tiền, thanh toán nợ, lãi... 

    Tòa án có thẩm quyền thụ lý là TAND quận, huyện nơi cư trú của người bị kiện, hoặc TAND tỉnh, thành phố (nếu có yếu tố nước ngoài). Sau khi xem xét đơn khởi kiện, tòa án báo cho nguyên đơn nộp tạm ứng án phí và thụ lý vụ kiện. Thời hạn đưa vụ kiện ra xét xử tối đa là 6 tháng kể từ ngày thụ lý đơn khởi kiện.

  • Chúng tôi không muốn có mặt tại tòa khi ly hôn

    “Cả hai vợ chồng tôi đều là cán bộ giảng dạy đại học. Nay trục trặc đã thuận tình ly hôn, và không muốn xuất hiện tại tòa. Chúng tôi có thể ủy quyền cho luật sư không?”

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì đương sự có thể uỷ quyền cho luật sư hoặc người khác thay mặt mình khi tham gia tố tụng, trừ việc ly hôn và huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Như vậy, nếu muốn ly hôn, bạn không thể không ra toà. Còn phiên tòa ngắn hay dài thì phụ thuộc vào việc đôi bên thuận tình và tự nguyện giải quyết các vấn đề vướng mắc thế nào.

    Luật sư chỉ có thể nhận uỷ quyền của đương sự trong trường hợp giải quyết vấn đề về tài sản sau ly hôn. Ví dụ, vợ chồng bạn ra toà thuận tình xin ly hôn, đề nghị toà án chỉ giải quyết việc xin ly hôn, còn vấn đề con cái và tài sản sẽ do hai bên tự thoả thuận. Tuy nhiên sau đó, hai bên lại không giải quyết được vấn đề tài sản, buộc phải khởi kiện vụ kiện thứ hai thì lúc đó, các bạn có thể uỷ quyền cho luật sư thay mặt mình ra toà.

  • Tranh chấp lối đi chung giải quyết thế nào?

    “Tôi mua một mảnh đất ở Tây Hồ, UBND phường xác nhận được mở cửa ra lối đi chung của xóm. Nhưng khi làm nhà xong, một hộ trong ngõ đã cản trở, không cho gia đình tôi đi qua ngõ này. Sự việc được chính quyền hòa giải, tôi chấp nhận đóng một khoản tiền để êm chuyện. Tuy nhiên gia đình đó không chịu lập giấy biên nhận. Tôi nên làm gì?” 

    Trả lời:

    Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, nhà bạn hoàn toàn được có lối đi. Tuy nhiên, khi mua nhà, bạn cần tìm hiểu xem các gia đình xung quanh phải đóng góp gì cho cơ sở hạ tầng ở đó không. Nếu có, bạn cũng phải tham gia. Trường hợp bạn đã làm tất cả những gì có thể mà người hàng xóm vẫn làm khó dễ thì bạn nên làm đơn yêu cầu UBND phường can thiệp, hoặc lên Công an phường nếu hộ kia gây rối trật tự. Trường hợp gia đình không thỏa mãn với giải quyết của phường, bạn có thể đệ đơn lên UBND quận.

    Theo chúng tôi, bạn nên thương lượng với gia đình kia, và nhờ UBND phường trung gian, lập biên bản hòa giải, đôi bên cùng ký. Biên bản ghi rõ số tiền đóng góp là để tu bổ, bảo dưỡng lối đi chung.

  • Đòi nợ khi giấy vay tiền không ghi thời hạn

    “Chị tôi cho bạn vay tiền làm ăn, thu lãi song giấy nợ không ghi thời hạn. Nay đề nghị trả tiền, người vay gây khó khăn. Một chị khác vì nể đồng nghiệp mà cho mượn tên và hộ khẩu đi vay tiền xóa đói giảm nghèo. Ngay người đó bỏ trốn và chị ấy phải trả thay. Vậy có cách nào để khởi kiện ra tòa và thu tiền?” .

    Trả lời:

    Về câu hỏi thứ nhất, theo Bộ luật Dân sự, là hợp đồng vay tiền không thời hạn. Nếu không thể thương lượng được với người vay tiền, chị bạn có thể gửi đơn đến tòa dân sự, TAND quận, huyện nơi chị bạn hoặc nơi người vay sinh sống, khiếu kiện buộc bên vay phải trả tiền (cả gốc và lãi). Khi gửi đơn cần cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh việc cho vay tiền và những lần thu lãi. Căn cứ vào những dữ liệu chị bạn đưa ra, nếu đủ chứng cứ, tòa sẽ buộc bên kia phải trả tiền cho chị bạn. Tuy nhiên, để giải quyết sự việc được thuận lợi và nhanh chóng, chị bạn cần phải xét đến khả năng trả tiền của người vay và lãi suất cho vay (tòa sẽ căn cứ theo mức lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước quy định đối với các tổ chức tín dụng để ấn định mức lãi suất mà chị bạn được hưởng).

    Trường hợp thứ hai, chị bạn đã trả đủ tiền cho ngân hàng, nghĩa là không phải lo đến khoản nợ với lãi suất quá hạn. Để đòi lại tiền mà chị bị lừa, chị ấy nên làm đơn lên cơ quan công an để tố cáo hành vi phạm pháp của người đồng nghiệp đó, đồng thời yêu cầu các cơ quan hữu quan can thiệp để tiến hành các biện pháp đảm bảo thi hành án (niêm phong nhà, tài sản...). Sau khi nhận được đơn thư của những người bị hại (người bị lừa), cơ quan công an sẽ tiến hành điều tra, truy nã người bị tố giác... Khi tòa đưa vụ án ra xét xử, bên bị hại có thể yêu cầu phát mại tài sản của người chiếm đoạt tiền để bồi thường, trả nợ.

  • toi có xuong san xuất gốm trong đó đất thuê 14.500m2. 6.857 m2 đất trồng cây lâu năm tôi có ủy quyền cho con đi vay đảm bảo bên thứ ba khi tôi đi Lào về làm việc về Việt Nam! Phát hiện đất trồng cây lâu năm đả chuyển nhượng sang Tên con tôi và giả chử ký thay đổi chủ sang con tôi và con đâu ,tài sản đang lại thu 400.triệu

Luật sư tư vấn miễn phí

Gọi ngay
0902818158- 0906834543
0906834543
0902818158

Tin pháp luật

CÁC ĐỐI TÁC

  • Nhà Đất Phúc An Khang
  • The Diplomat
  • The NewYork Review of Book
  • CogitAsia
  • Reuters
  • Viet Studies
  • The NewYork Times
  • TIME
  • Bloomberg Bussiness