Nhận
định của ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng
Bộ Kế hoạch và Đầu tư về chính sách
kích cầu của Việt Nam thời gian tới.
Kích cầu thực chất là
tăng vốn đầu tư
Chính sách kích cầu vừa
được công bố cuối tháng 11 vừa qua có
đúng thời điểm không, thưa ông?
Từ cuối tháng 2/08, khi thấy
tình hình kinh tế trong nước có một số diễn
biến không tốt, tôi đã có đề xuất điều
chỉnh các chỉ tiêu kế hoạch, nhất là chỉ
tiêu tăng trưởng của năm 2008. Từ tháng 6/2008
đến nay, Quốc hội đã hai lần có quyết
định điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng.
Cuối tháng 6 và đầu tháng
7/2008, tôi đã đề xuất là dứt khoát phải nới
lỏng có mức độ chính sách tiền tệ. Và đầu
tháng 9, tôi cũng đề xuất cần có biện pháp
kích cầu ngay từ quý 4, để ít nhất chúng ta còn có
được một quý trong năm nay.
Tất cả đề xuất của
tôi đều bắt nguồn từ nhận định
cơ bản, từ sau Tết Mậu Tý và đến nay,
tôi vẫn cho rằng năm 2008 sẽ rất khó. Do đó,
không đạt được chỉ tiêu kế hoạch
như đã đề ra. Và
năm 2009 sẽ còn khó khăn hơn.
Ở nước ta, tăng
trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào vốn, yếu
tố vốn chiếm đến khoảng 60%. Chính vì vậy,
có thể khẳng định, không có đầu tư là
không có tăng trưởng kinh tế và kích cầu thực
chất là tăng vốn đầu tư.
Mặc dù biết rằng chỉ
chạy theo vốn như thế này là không cơ bản và
rất có giới hạn, không thể đi mãi bằng con
đường này, nhưng trước mắt, khi chưa
“đi” được bằng con đường khoa học
công nghệ, bằng năng suất cao thì buộc lòng phải
sống bằng con đường này.
Đồng thời, trong thời
gian ngắn nhất phải làm cho các yếu tố về
năng suất lao động, công nghệ - tức là các yếu
tố tăng chất lượng của tăng trưởng
phải vượt trội.
Nói như vậy để thấy
rõ chúng ta phải bắt đầu ngay từ bây giờ việc
thay đổi cơ cấu đầu tư nhằm nhanh
chóng cải thiện hiệu quả sản xuất, kinh
doanh thì may ra từ năm 2010 trở đi mới có
thể có tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
như mong muốn.
Thực trạng kinh tế hiện
nay có những điểm gì tương đồng với
giai đoạn khó khăn cách đây đúng một thập
kỷ?
Câu chuyện hiện nay khá giống
các năm 97-98-99 của thập kỷ trước. Cuộc
khủng hoảng khu vực xảy ra năm 1997, cuối
năm đó, Quốc hội nước ta thông qua kế hoạch
năm 98 là tăng trưởng kinh tế khoảng 9%. Tháng
3/98, thấy tình hình không ổn Chính phủ trình và được
Quốc hội quyết định điều chỉnh chỉ
tiêu tăng trưởng xuống 5-6%.
Thời điểm đấy,
cũng có nhận định, năm 99 sẽ khó khăn
hơn năm 98. Vì vậy, trong kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội năm 1999, đề ra mục tiêu
tăng trưởng kinh tế là 5-6% và thực tế
năm đó chỉ đạt 4,8%.
Theo tôi, tăng trưởng kinh tế
6,5% đề ra cho năm 2009 cũng là con số khá cao,
đạt được nó là không đơn giản. Trong
điều kiện cụ thể của nước ta,
tăng trưởng kinh tế cao là nguyện vọng cháy bỏng
của mỗi người dân, là con đường sống
của cả dân tộc.
Song tăng trưởng nhanh phải
đi đôi với bền vững, tăng trưởng
kinh tế phải gắn với phát triển xã hội, bảo
vệ môi trường sinh thái, phát triển văn hóa, thực
hành dân chủ, phát triển con người; phát triển
kinh tế của thời kỳ này phải tạo tiền
đề, nền tảng cho phát nhanh và bền vững của
giai đoạn tiếp theo.
Nói như vậy để thấy
tăng trưởng 6,5% cho năm 2009 là con số không thấp,
không đơn giản nếu gắn được các yêu
cầu của sự phát triển nêu trên đây. Tình hình
trong và ngoài nước hiện nay khó khăn hơn một
thập kỷ trước. Một điểm cần chú ý
là cân đối vĩ mô của nước ta trước
đây khá hơn hiện nay, lạm phát năm 1998 chỉ là
9,2%, còn năm 2008 có thể đến 22%.
Nếu ví cuộc khủng hoảng
tài chính như cơn bão thì kinh nghiệm cho hay cơn bão này
đổ bộ vào nước ta chậm, nhưng ở lại
lâu và sẽ tàn phá nặng nề. Do đó, cần có hành
động ngay để ngăn chặn bớt sự tàn phá
của cơn bão tài chính đang diễn ra, giảm thiểu
tác động xấu của nó.
Yếu tố thời gian hiện
là số 1
Con số 1 tỷ USD được
Chính phủ đưa ra có giá trị tinh thần nhiều
hơn hiệu quả thực tế xét về mặt hỗ
trợ nền kinh tế, có đúng không, thưa ông?
Năm tới, tổng vốn
đầu tư toàn xã hội dự kiến khoảng 715
ngàn tỷ đồng, tương đương khoảng
42,5 tỷ USD (theo tỷ giá 16.800 đồng /USD). Chúng ta cần
khai thác trong con số 42,5 tỷ USD là chính. Để kích cầu
chúng ta cần có nguồn vốn, nguồn vốn này lấy
ở đâu cũng được, miễn là nguồn
đó khai thác được nhanh nhất.
Tất cả các nguồn vốn
từ ngân sách, trái phiếu, tín dụng, doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều
cần phải khai thác. Yếu tố thời gian hiện
là số 1. Bây giờ mới bắt đầu đã là quá
muộn. Vì vậy, càng phải chạy nhanh.
Đương nhiên, bên cạnh
nguồn vốn trong nước, chúng ta cũng cần tính
đến việc vay thêm vốn từ bên ngoài. Đây
cũng là kinh nghiệm của kế hoạch kích cầu
năm 1997-1999.
Có những nguồn vốn Nhà
nước đã có kế hoạch, nhưng thực hiện
quá chậm. Trái phiếu Chính phủ là nguồn vốn Nhà
nước phải đánh đổi bằng cách vay dân
để xây dựng các công trình trước và ngân sách nhà
nước trả lại sau. Giá của công trình xây bằng
nguồn này sẽ đắt lên.
Ví dụ, vay dân với lãi suất
8%/năm, 5 năm phải trả lại cả gốc lẫn
lãi cho dân, thì công trình mặc nhiên đắt lên ít nhất là
40%. Công trình xây dựng bằng nguồn vốn này phải
đưa vào hoạt động sớm thì việc đánh
đổi nêu trên mới có ý nghĩa, mới đáng giá của
việc đánh đổi. Mấy năm qua chúng ta chưa
làm được điều này.
Tương tự như câu chuyện
kích cầu, cũng là vốn nhà nước bỏ ra, nếu
làm chậm, phải đánh đổi bằng giá vốn
nhưng hiệu quả không cao sẽ rất đáng tiếc.
Một tỷ USD là quan trọng nếu
biết sử dụng, còn không con số này cũng như
muối bỏ bể. Nếu sử dụng nguồn này
theo con đường bao cấp thì 1 tỷ USD đó thành
tai họa chứ không mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
Số tiền này nên được cho vay một cách cân nhắc
để trở thành “mồi” hợp lý trong việc kích
thích kinh tế.
Một ví dụ là, trong điều
dự phòng tài chính eo hẹp thì thông thường ngân sách có
thu rồi mới có chi, nhưng khi thu không kịp mà vẫn
phải chi cho đầu tư để sớm đưa
công trình, dự án vào sử dụng, sớm làm tăng sức
mua cho xã hội thì bên A có thể đi vay. Nhà nước có
thể dùng một phần từ 1 tỷ USD này bù lãi. Lại
phải nhấn mạnh rằng, thời gian là yếu tố
vô cùng quan trọng trong công tác kích cầu hiện nay.
Kích cầu chậm, hàng Trung Quốc
dễ chiếm thị phần
Theo ông, lĩnh vực nào cần
được kích cầu?
Thứ nhất là tất cả
các dự án có “đầu ra” chứ không phải những dự
án chứng minh được có đủ điều kiện
“đầu vào”. Đầu ra càng hiện thực bao nhiêu
thì càng tốt bấy nhiêu. Mặt hàng nào cung-cầu vênh thì
đưa vốn vào.
Hiện nay, hàng Trung Quốc
đang “kìn kìn” chạy sang, nếu kích cầu chậm thì
hàng Trung Quốc dễ chiếm được nhiều thị
phần của nước ta, gây hậu quả xấu
không dễ khắc phục.
Nhóm thứ hai là những lĩnh vực
cũng tạo sức mua nhưng sản phẩm rất
cơ bản và lâu dài, đó là những công trình, dự án
phát huy tác dụng, hiệu quả trong tương lai xa
hơn, tạo ra cơ cấu kinh tế tốt hơn, làm
nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.
Số tiền “mồi” có thể
là ít, cho nên cần tìm cái gì cần “mồi”. Chọn dự
án nào đã có đủ điều kiện nhất để
đầu tư cho điện, giao thông, thuỷ lợi.
Danh sách đưa ra thì nhiều nhưng phải có tiêu chí cụ
thể để lựa chọn. Hình như Bộ Kế
hoạch và Đầu tư đang nợ tiêu chí.
Ngoài việc lựa chọn
lĩnh vực và dự án để ưu tiên đầu
tư cần thêm những điều kiện gì nữa,
thưa ông?
Để thực hiện chủ
trương kích cầu có hiệu quả thì phải xử
lý ít nhất là ba vấn đề: tiền đâu; đầu
tư vào đâu và đầu tư thế nào. Hai vấn
đề đầu đã được nêu trên đây.
Thiếu yếu tố thứ ba, thì không thể “kích cầu”
có hiệu quả.
Một trong những giải pháp
thuộc nhóm thứ ba và cần thực thi song song với
việc tiếp vốn đó là giải pháp mang tính chất
hành chính. Giải pháp này mang lại hiệu quả quá lớn
mà không tốn tiền. Chúng ta đã có kinh nghiệm để
rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành
chính ở một số khâu có thể, cho phép làm song song nhiều
thủ tục trong một dự án.
Để làm việc này phải tổ
chức những nhóm công tác, có đủ thẩm quyền
quyết định tại chỗ đối với những
vướng mắc do các thủ tục hành chính đang quá
rườm rà, hoặc vừa rườm rà nhưng thiếu
cụ thể gây ra